Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

ĐÁ QUÝ VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI



Các hạt đá quý không chỉ dùng làm đẹp mà còn ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần và sức khỏe của bạn. Chẳng hạn, người xưa cho rằng thạch anh tím cải thiện chứng mất ngủ, saphia chữa bệnh đau đầu.
Từ xa xưa, người cổ đại đã biết dùng đá quý để chữa bệnh. Họ tin rằng đá quý có khả năng điều chỉnh sự mất cân bằng trong cơ thể và tạo nên năng lượng bên trong con người. Các bậc vua chúa đã dùng đá quý như một vật tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực. Họ đeo đá quý quanh đầu với niềm tin chúng sẽ giúp trở nên thông thái hơn. Người Hy Lạp, Ai Cập, La Mã cổ đại thì dùng đá quý như những tấm bùa để bảo vệ bản thân.
Các loại đá quý thường được dùng trong những nghi thức thuộc về tâm linh. Chúng được đặt lên người khi massage, hoặc cho vào nước uống, nước tắm nhằm chuyển hóa năng lượng, giúp bảo vệ con người khỏi bị thương, tăng khả năng thần giao cách cảm...
Các bác sĩ chuyên về phương pháp chữa bệnh bằng đá cho rằng những viên đá có khả năng thu hút năng lượng từ suy nghĩ của con người, nên có tác dụng chữa bệnh. Người ta còn dùng những viên đá nhiều màu sắc, phản chiếu ánh sáng của thiên nhiên để làm tăng sức mạnh của cơ thể. Phương pháp này dựa trên sự hài hòa, trao đổi năng lượng giữa hai vật thể khác nhau, đó là đá và cơ thể con người. Dưới đây là một số loại đá quý và tính năng của chúng.
Tranh la
Hổ phách (còn gọi là huyết phách, minh phách) là nhựa đã hóa thạch của một loài thông cổ ngày nay đã tuyệt chủng. Hổ phách thường ở dạng khối nhũ, màu sắc rất trong và đẹp. Hổ phách được người Trung Hoa sử dụng từ những năm 90 sau Công nguyên và được khai thác, buôn bán rộng rãi từ thế kỷ 13.
Đông y cho rằng hổ phách có tác dụng an thần, định kinh, lợi tiểu..., đeo bên mình thường xuyên sẽ giúp tăng cường sức khỏe. Hổ phách thường được chế tác thành những đồ trang sức như nhẫn, vòng, hoa tai...
Căn phòng hổ phách nổi tiếng do vua nước Phổ là Friedrich Wilheim I tặng cho vua nước Nga Piere Đại đế được mệnh danh là kỳ quan thứ 8 của thế giới. Nó được chạm trổ và dát toàn bằng hổ phách. Căn phòng được đặt trong Cung điện Mùa Đông, nhưng trong Chiến tranh thế giới thứ 2 đã bị phát xít Đức cướp đi. Số phận của căn phòng hổ phách ra sao hiện giờ vẫn là một bí mật.
Đá thạch anh được con người phát hiện từ gần 300.000 năm trước, là loại tinh thể nhiều màu hồng, tím rất bắt mắt. Nhiều dấu tích cho thấy con người thời kỳ tiền sử đã biết sử dụng thạch anh làm đồ trang sức. Từ xa xưa, thạch anh đã được coi là một loại đá có khả năng chữa bệnh. Thạch anh tím có thể chữa bệnh mất ngủ, giúp con người giữ được niềm tin và lòng dũng cảm. Trang sức đá thạch anh hồng giúp con người tăng cường thể lực và tinh thần. Nhiều loại đá thạch anh được dùng trong các thiết bị massage để day vào các huyệt đạo giúp lưu thông khí huyết và điều tiết năng lượng. Người Hy Lạp cổ sử dụng những chiếc cốc làm bằng đá thạch anh đỏ và cho rằng nó sẽ giúp lọc chất độc, hoặc uống rượu mà không bị say.
Ngọc lục bảo là loại đá có màu xanh lam (do lượng crôm trong đá tạo nên). Ngọc lục bảo rất hiếm vì sự hình thành của nó đòi hỏi những điều kiện địa chất rất đặc biệt. Từ 2.000 năm trước, con người đã sử dụng ngọc lục bảo như một thứ tiền tệ để trao đổi và làm đồ trang sức.
Những nhà tiên tri thường sử dụng ngọc lục bảo như một vật giúp họ tiên đoán được tương lai. Người ta cho rằng ngọc lục bảo có khả năng dự báo bệnh tật (màu sắc của ngọc lục bảo thay đổi tùy theo tình trạng sức khỏe của người đeo).Đá saphia có nhiều màu sắc được con người sử dụng từ 800 năm trước Công nguyên. Đá saphia có nhiều ở Ấn Độ, Miến Điện, Himalaya. Áp suất và nhiệt độ lòng đất làm cho ôxit nhôm kết tinh thành những viên đá saphia đẹp màu trắng. Một lượng nhỏ các khoáng chất khác, chẳng hạn sắt và crôm, làm cho saphia có sắc xanh, đỏ, vàng, hồng, tím, da cam hoặc lục nhạt. Người xưa quan niệm đeo đá saphia sẽ ngăn được ma quỷ. Có thời kỳ các thầy thuốc cổ đại dùng saphia để chữa các chứng bệnh liên quan đến cơ, xương khớp, đau đầu, đau bụng, chảy máu cam...

Ngọc topaz là một loại đá quý có màu vàng, trong suốt. Theo truyền thuyết, topaz là một trong những viên đá che chở con người chống lại các dịch bệnh, vết thương, đột tử, những phép thuật tiêu cực, sự đố kỵ và những ý nghĩ điên rồ. Topaz còn được đeo để giúp giảm cân, chữa các bệnh về hệ tiêu hóa .

Đá peridot: Nhiều tài liệu cho thấy nữ hoàng Ai Cập Cleopatra rất thích đá peridot. Đây là loại đá quý hiếm sinh ra từ núi lửa, có màu xanh hơi vàng. Đá peridot chất lượng được khai thác ở các vùng như Arizona, Nauy, khu vực biển Hồng Hải. Người xưa tin việc đặt đá này lên giường sẽ tốt cho hệ thần kinh, làm giảm cơn giận dữ và những hành động tiêu cực. Người La Mã tin đá peridot sẽ giúp họ yêu đời mỗi khi cảm thấy chán nản, và có khả năng chữa bệnh về gan, đau thần kinh tọa, đau lưng .
Đá carnelian: Tên loại đá này có nghĩa là sự sống. Người xưa cho rằng carnelian có khả năng chữa bệnh. Carnelian làm giảm sự giận dữ và có thể cầm máu khi bị thương.

Đá muối Himalaya: Có giả thuyết: Cách đây hàng chục triệu năm Tây Tạng là một vùng biển, vì thế loại đá muối ở Himalaya là một quà tặng đặc biệt của tạo hóa. Đá muối Himalaya được cho là tinh khiết, không chỉ hấp dẫn bởi màu sắc vô cùng đa dạng mà còn có công dụng chữa nhiều bệnh. Nó giúp cơ thể cân bằng năng lượng, giảm các chứng đau đầu mệt mỏi, thậm chí hỗ trợ cho hoạt động của tim, phổi, thận.
Ngoài ra còn rất nhiều loại đá khác được con người sử dụng như đồ trang sức và bảo vệ sức khỏe như đá beryl (màu xanh, vàng) giúp mạng lại sự vui vẻ, có tác dụng cho tim mạch và cột sống; đá bloodstone được người Hy Lạp coi là máu của Chúa Jesus, có tác dụng cầm máu vết thương, giúp những người leo núi tăng cường sức lực; đá mã não giúp tăng trí nhớ, sự kiên nhẫn và sức chịu đựng;...
Cho đến ngày nay, quan niệm về khả năng chữa trị bệnh của các loại đá của người xưa vẫn chưa được khoa học hiện đại kiểm chứng. Ngoài tác dụng làm đồ trang sức thì các tính năng chữa bệnh của chúng vẫn còn là một ẩn số.

Mới đây, các nhà khoa học Pháp đã tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy một số loại đá có khả năng trao đổi năng lượng. Thậm chí họ còn chứng minh rằng đá không phải là một tĩnh vật mà có thể “thở”, vận động và tiềm ẩn nhiều nguồn năng lượng có tác động đến con người.

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

ý nghĩa của những bức tranh



Mỗi khi thưởng ngoạn một bức tranh, ấn tượng ban đầu của đa số chúng ta hầu như ở phương diện hình thức, tức là đánh giá xem tranh có đẹp hay không. Nhưng nếu tự hỏi tại sao tranh có chủ đề như thế, hay tác giả muốn gởi gấm điều gì qua bức tranh ấy, có lẽ không ít người lúng túng tìm câu giải đáp.

Ở đây chúng ta sẽ không xét tới những hoạ phẩm của những tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng những trường phái hội hoạ Tây phương (như phái ấn tượng, phái siêu thực, v.v...) mà chính tác giả mới hiểu hoặc không ai hiểu gì cả (kể cả tác giả). Chúng ta cũng không xét tới các hoạ phẩm mang tính chất tôn giáo bởi vì mục đích của tranh đã thấy rõ. Chúng ta sẽ xét những bức tranh mang đậm nét truyền thống, thậm chí dân gian, để thấy ý nghĩa biểu tượng được gởi gấm trong đó. Thí dụ như tranh có các chủ đề như: hoa điểu, rồng, ngựa, vượn, cá, tùng hạc, sơn thuỷ, v.v...

Có hai điểm nổi bật của loại tranh này. Thứ nhất, trong cuộc sống người ta thường gán cho một sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng. Thí dụ: trúc là quân tử, mai là giai nhân, cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diên niên), v.v... Hoạ sĩ chỉ việc thể hiện nó bằng kỹ pháp riêng của mình. Thứ hai là thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người. Thí dụ

Tranh la
- Bông hoa, chữ Hán là hoa phát âm gần giống chữ hoa (vinh hoa) .

- Hoa sen, chữ Hán là liên phát âm giống như chữ liên (liên tục); hoặc chữ Hán là hà phát âm giống như chữ hoà (hoà hợp).

- Quả thị hay cành thị,chữ Hán là thị phát âm giống như chữ sự (sự việc).

- Quả lựu, chữ Hán là lựu phát âm giống như chữ lưu (trôi chảy, lưu truyền).

- Cây phong, chữ Hán là phong phát âm giống như chữ phong (ban phong).

- Cây ngô đồng, chữ Hán là đồng phát âm giống như chữ đồng (cùng với).

- Cành mai, chữ Hán là mai phát âm gần giống chữ mỗi mỗi thứ, mỗi người.

- Cành trúc, chữ Hán là trúc phát âm gần giống chữ chúc(chúc tụng).

- Con gà, chữ Hán là kê phát âm gần như chữ cát (tốt lành).

- Con cá, chữ Hán là ngư phát âm giống như chữ dư (dư thừa, dư dật).

- Con dơi, chữ Hán là bức phát âm giống như chữ phúc (hạnh phúc). Vẽ 5 con dơi tức là ngũ bức, phát âm giống như ngũ phúc. Con dơi vẽ lộn ngược tức là đảo bức, phát âm giống như đáo phúc (phúc đến).

- Con mèo, chữ Hán là miêu phát âm gần giống chữ mạo (già 80 tuổi).

- Con bướm, chữ Hán là điệp phát âm giống như chữ điệt (già 70 tuổi) và chữ điệp (trùng điệp).

- Con hươu, con nai, chữ Hán là lộc phát âm giống như chữ lộc (bổng lộc).

- Con vượn, con khỉ, chữ Hán là hầu phát âm giống như chữ hầu (tước hầu).

- Cái quạt, chữ Hán là phiến phát âm giống như chữ thiện(tốt lành).

- Ống sáo, chữ Hán là sinh phát âm giống như chữ sinh (sinh nở) và chữ thăng (bay lên).

- Cái lục bình, chữ Hán là bình phát âm giống như chữ bình (bình an).

- Cái mũ, cái mão, chữ Hán là quan phát âm giống như chữ quan (ông quan).

- Ngọc như ý đúng ý nghĩa là như ý.

- Số 9, chữ Hán là cửu phát âm giống như chữ cửu (lâu dài).

- v.v...

1. Tranh vẽ quả đào với 5 con dơi ngụ ý Ngũ Phúc Lâm Môn. Ngũ Phúc là: phú, thọ, khang ninh (khỏe mạnh), du hiếu đức (yêu nhân đức), khảo chung mệnh (chết êm ái).

2. Tranh vẽ quả phật thủ với con bướm ngụ ý sống lâu đến 70-80 tuổi, vì quả phật thủ tượng trưng cho thọ hay phúc, con bướm (điệp) ngụ ý già 70 tuổi hay trùng điệp (điệp), tức là phúc thọ trùng điệp.

3. Tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) ngụ ý tam đa: đa phúc(nhiều phúc), đa thọ (rất thọ), đa nam tử (nhiều con trai).

4. Tranh vẽ quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý ngụ ý «tam đa cửu như» nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững.

5. Tranh vẽ quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra ngụ ý «lựu khai bách tử» (lựu mở ra sinh trăm con).

6. Tranh vẽ quả lựu với 5 cậu bé con ngụ ý mong cho con cái sau này đều hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.

7. Tranh vẽ quả lựu (ngụ ý lưu truyền) với cái mũ (ngụ ý tước quan ), cái đai lưng (đái ), cái thuyền (thuyền , đọc giống truyền) ngụ ý mong cho «Quan đái truyền lưu» (đai lưng của quan được lưu truyền, tức là được phong quan tước nhiều thế hệ trong gia tộc).

8. Tranh vẽ hai quả thị (ngụ ý sự việc) với ngọc như ý là mong «Sự sự như ý»(vạn sự như ý).

9. Tranh vẽ cây ngô đồng (đồng âm với đồng : cùng với) với con hươu (lộc , đồng âm với lộc: bổng lộc) và chim hạc (trường thọ) là ngụ ý «Lộc thọ đồng lộc hạc» (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).

10. Tranh vẽ chim hỉ thước (vui vẻ) đậu cây ngô đồng (đồng âm với đồng : cùng với) là ngụ ý «đồng hỉ» (mọi người cùng vui vẻ).

11. Tranh vẽ đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen (liên ) và ống sáo (sinh) là ngụ ý «Liên sinh quý tử»(liên tiếp sinh quý tử).

12. Tranh vẽ 4 đứa trẻ: đứa cầm cành táo (tảo , đồng âm với tảo: sớm), đứa cầm ống sáo (sinh ), đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ là ngụ ý mong: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.

13. Tranh vẽ đứa trẻ ăn mặc sang trọng (phú ), cổ đeo cái khánh (đồng âm với khánh, hiểu là may mắn hạnh phúc) đang ngắm bầy cá vàng (ngư , hiểu là dư thừa) là ngụ ý mong: giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa.

14. Tranh vẽ chim hỉ thước đậu cành mai (đồng âm với mỗi : mọi người) cành trúc (đồng âm với chúc: chúc mừng) là ngụ ý mong cho mọi người đều vui vẻ.

15. Tranh vẽ trúc mai ngụ ý mọi người may mắn.

16. Tranh vẽ mai, trúc với con mèo và con bướm là ngụ ý mong mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.

17. Tranh vẽ mẫu đơn (phú quý) với con gà (kê đồng âm với cát: tốt lành) ngụ ý «phú quý cát tường».

18. Tranh vẽ con khỉ (hầu ) trèo cây phong (phong ) có cái ấn cột vào cành cây ngụ ý «ấn phong hầu», tức là được thăng quan tiến chức nói chung.
v.v...

Trên đây là một số minh hoạ tiêu biểu. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của loại tranh này cho thấy ba chủ ý của tác giả:
1- gởi gấm ý chí;
2- ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân;
3- và cầu chúc hạnh phúc cho người khác.
Với chủ ý thứ ba, các bức tranh này thường được người ta làm quà tặng nhau vào những dịp mừng thọ hay những dịp đặc biệt như ngày đầu năm, mà những lời chúc nguyện rồi sẽ như chồi non lộc mới nảy nở thành những đoá hoa rực rỡ tươi thắm trong tiết xuân sang.

Tranh phong thủy cho các tuổi: Tý – Sửu – Dần – Mão

1- Tuổi Tý: 1948 - 1960 – 1972 – 1984 – 1996 - 2008

a- Tranh rồng, tranh sơn thuỷ hoành tráng, khí thế như bay, hướng nước chảy hoặc hướng rồng cuộn như chầu vào cung trung.

b- Quý nhân tương trợ, tránh được thị phi, tàng phong tụ khí, tiến tài khai vận, gia đình viên mãn; treo trong gia đình người làm quan rất lợi cho đường danh vọng, bước bước cao thăng.

c- Vị trí tốt nhất treo ở phòng khách, tường bên trái theo hướng phòng (tay trái chủ nhà).

Tranh la

2- Tuổi Sửu: 1949 – 1961 – 1973 – 1985 - 1997


Tùng bách trường thọ

a- Phong cảnh mùa xuân, phong cảnh mùa thu, cây xanh cổ thụ, non xanh cỏ thắm.

b- Cấp trên đề bạt, trường thọ, tiền tài dư giả, quan lộ thanh nhàn, gia khí hưng vượng.

c- Nên treo phương Nam (hướng trước mặt phòng mình, phòng khách; người mệnh mộc treo phía sau lưng mình hoặc hướng Bắc.

3- Tuổi Dần: 1938 – 1950 – 1962 – 1974 – 1986

- Các loại tranh sơn thuỷ, núi cao lớp lớp, tranh hổ

b- Vượng về điền trạch, vượng nhân đinh, tăng khả năng công tác, khẳng định vị thế phía sau dựa núi, trước mở đường tài - Kim Đồng tiến bảo, bên trái chiêu tài – bên phải trừ tai, chủ yên vị khách yên tâm;

c- Nên treo phòng khách, sảnh đường, phía sau chủ nhân theo hướng phòng.

4- Tuổi Mão: 1939 – 1951 – 1963 – 1975 – 1987


a- Tranh trúc báo bình an, Lan nở phú quý, Tùng cúc trúc mai. Vào các năm mậu tý – mậu ngọ (như năm 2008 – mậu tý), người tuổi Mão tài vận thường thường, cầu tài khó đắc, may được quý nhân tương trợ nên mọi việc tuy không mỹ mãn nhưng cũng hoàn tất. Vì thế nên treo Trúc báo bình an, cầu bình an.

b- Tăng tài vận, học hành, văn bút, có tác dụng chuyển vận giúp sự nghiệp hanh thông. Trúc là đại biểu thanh cao chuyển vận, có thể trợ giúp người buôn bán thất thường được yên ổn làm ăn, gặp đối tác tốt, tài vận dần dần hưng vượng. Thế mới gọi là trúc quân tử chuyển vận.

c- Treo ở phòng khách, phòng làm việc, hướng Đông hoặc hướng Tây Nam để đón sinh khí (từ 2006, sao sinh khí ở Tây Nam).

Tranh phong thủy cho các tuổi thìn-tỵ-ngọ- mùi

1- Tuổi Thìn: 1940 – 1952 – 1964 – 1976 – 1988 – 2000

Tranh "Kim - Thủy sinh Mộc" có hỏa trợ, tài lộc - cao quý

a- Rồng xanh hí thuỷ, Hầu vương hiến thuỵ, Bách mã đồ, Nhật xuất thiên sơn, Hồ quang sơn sắc, Hoa mẫu đơn.

b- Long – Mã tương phối, tinh thần bậc quân tử, trụ cột quốc gia. Tượng quẻ mã thuộc trời, ngũ hành thuộc hoả; đại biểu hưng vượng, thành công nối tiếp, cao quý hơn người, trên dưới trong ngoài phối hợp nhịp nhàng, trật tự quy củ.

c- Nếu là tranh la ngựa (mã) hoặc hoa, cấm kỵ treo phương Nam, vì sẽ tạo ra “Hoả thiêu thiên môn”, con cái khó dạy, chủ hay đau đầu hoa mắt. Tốt nhất treo phương Đông hoặc phía tay trái chủ nhà (theo hướng phòng).

2- Tuổi Tỵ: 1941 – 1953 – 1965 – 1977 – 1989 – 2001

a- Đại bàng tung cánh, rồng bay là những tranh thích hợp nhất với người tuổi tỵ; ngoài ra có mẫu đơn, cá chép ao sen, tùng hạc…

b- Đại bàng và hổ có 5 đức: Văn – Vũ – Dũng – Tín – Nhân. Hai loại này thuộc linh vật, đặc biệt hiệu quả trong trấn quỷ trừ tà; gia đạo khang ninh, cát tường như ý, treo ở phòng khách còn có thể trừ vạ đào hoa; Mẫu đơn vinh hoa phú quý, cá chép ao sen mạnh khoẻ trường thọ; tùng hạc diên niên, giữ phúc vĩnh hằng.

c- Đại bàng treo bên ở phòng khách, đầu hướng ra ngoài, kỵ treo phòng ngủ, phòng đọc, phòng thờ. Các tranh còn lại treo phòng khách, phòng làm việc đều tốt, treo sau lưng chỗ ngồi.

3- Tuổi Ngọ: 1942 – 1954 – 1966 – 1978 – 1990 – 2002


a- Tranh liên quan đến cá chép là thích hợp, nhất là Cửu lý ngư (9 con cá chép), tiếp đến là tranh sơn thuỷ, tùng bách, trúc mai…

b- Dư giả vĩnh hằng, Kinh thi nói: Trời bổ khiếm khuyết, không gì không hưng thịnh, sơn như cồn dậy, thuỷ như triều dâng không gì không tăng tiến; đẹp như nguyệt hằng, mới như mặt trời mọc; thọ như nam sơn, xanh như tùng bách, chỗ nào cũng vừa vặn hài hoà..

c- Treo phía sau lưng - hướng bắc, đông nam, tây nam, treo trong đại sảnh, phòng khách, phòng làm việc, phòng học tập.

4- Tuổi Mùi: 1943 – 1955 – 1967 – 1979 – 1991 – 2003


Tranh "Sơn thủy hữu tình"

a- Đây là tuổi nên dùng tranh để trang trí trong gia đình. Tốt nhất dùng tranh sơn thuỷ hữu tình, trong đó có đủ hoa cỏ và cây cối, treo tranh hoa Mẫu đơn, hoặc tranh thảo nguyên mênh mông, tranh tôn giáo như Phật ADIĐÀ, Quan Âm, hoặc chỉ cần một chữ Phật, bài tâm kinh, …

b- Nhàn dật, thanh thản, vận hội tự nhiên, tài lộc tự vượng, nhiều người giúp đỡ chỉ bảo; phú lại đi liền quý. Phật là đại biểu của vàng, của thuỷ; tâm kinh thuộc hoả, hoa mẫu đơn thuộc cách phú quý vinh hoa; sơn thuỷ hữu tình - vợ chồng đằm thắm; riêng người sinh năm 1967 rất dễ treo tranh.

c- Nên tùy mệnh của mình mà treo các loại thuộc Thủy, Hỏa, Mộc... Nhưng tốt nhất là tranh sơn thủy mùa xuân, hoa cỏ tươi thắm, treo phía tay trái hoặc phương Đông theo hướng ngồi ở phòng khách, phòng làm việc; tâm kinh, chữ Phật có thể treo phòng ngủ.

Tranh phong thủy cho các tuổi




Tranh phong thủy cho các tuổi Thân - Dậu - Tuất - Hợi

1- Tuổi Thân: 1944 – 1956 – 1968 – 1980 – 1992 – 2004

a- Trong nhà nếu có người già, treo tranh la đàn dơi, tranh tùng hạc, hoa điểu, trúc…
 b-Người già bình an, thiên quan tứ phúc, ngũ phúc đều vượng (phúc, lộc, thọ, khang, ninh). Tranh dơi là tốt nhất, nếu không thì treo tùng hạc diên niên, hoặc tùng đón khách; tăng khả năng giao tế, quan hệ công việc, buôn bán, sản xuất kinh doanh đều tốt.

c- Treo gian chính, phía bắc theo hướng nhà, phía đông bắc, tây bắc, tây nam; treo cao ở vị trí hoành phi là tốt nhất.

2- Tuổi Dậu: 1945 – 1957 – 1969 – 1981 – 2005 


a- Tranh phượng hoàng, Bách điểu triều phụng, Tam dương khởi thái (Tam dương khai thái), Trăm con sơn dương, phượng là con trống, hoàng là con mai, đôi chim vua của loài chim này thuộc linh điểu; hoặc các tranh hoa điểu, mẫu đơn; thuyền chở châu báu…

b- Tam dương khai thái là mở ra vận hội mới, thái bình tốt đẹp; phượng hoàng song phi, bách điểu triều phụng là vợ chồng hoà thuận, sự nghiệp hanh thông, địa vị tôn quý, con cháu xum vầy hoà mục, đỗ đạt thành công…

c- Treo phòng khách, vị trí trung tâm, treo ở nhà thờ họ, nhà trưởng họ hoặc vị trí trung tâm trong gia đình. Tốt nhất nên căn cứ ngũ hành bản mệnh và phong thuỷ cung lập mệnh để treo cho hợp vị.

3- Tuổi Tuất: 1946 – 1958 – 1970 – 1982 – 1994 – 2006


a- Mẫu đơn hoa 8 bông, mẫu đơn hoa 9 bông là cực phẩm tranh của người tuổi Tuất; hoặc treo tranh hoa điểu; tranh sơn thuỷ thuộc diện bình bình chỉ có giá trị trấn trạch an gia.

b- Ngày một vinh hiển, phú quý dài lâu, chuyển nguy thành an, thay đổi vận số, khiến cho sự nghiệp, công việc gặp trắc trở thành thuận lợi. Tặng người trung tuổi, thanh niên tặng nhau dịp cưới hỏi thể hiện lời chúc mẹ tròn con vuông, hoa khai phú quý, rất lợi cho hôn nhân…

c- Phòng khách, phòng làm việc, phòng ngủ hay thư phòng đều hợp; nên treo hướng đông, đông nam hoặc theo bản mệnh, mệnh cung phong thuỷ của chủ nhân. Tốt nhất nên theo hướng dẫn của thầy phong thuỷ.
3- Tuổi Hợi: 1947 – 1959 – 1971 – 1983 – 1995 – 2007

Bát mã

a- Người bản mệnh (nạp âm) thiếu thuỷ treo tranh cá chép, phong cảnh sông nước; khuyết thiếu kim tranh Tuyết sơn, thiếu hoả treo tranh Bát mã hoặc mẫu đơn, thiếu thổ treo núi non, thành quách. Người tuổi Hợi dễ treo tranh, có thể treo các loại hoa cỏ, chim muông, linh vật như Tam dương, Bách hạc đồ; tranh chữ…

b- Tuổi hợi tướng long, treo tranh nào lợi phương diện đó, quý nhân phù trợ, ra vào gặp bè bạn tốt; buôn bán gặp phường, lợi văn chương và các công việc văn hoá – xã hội, cương trực ngay thẳng, trường thọ đa phúc, tài vận hanh thông; kiên trì sự nghiệp, chính đại quang minh không sợ uy quyền, khồng quỳ luỵ…

c- Treo phòng khách hoặc phòng đọc, hướng tây nam, đông bắc, tây bắc; hoặc treo theo hướng dẫn của thầy phong thuỷ; căn cứ bản mệnh thiếu gì trong ngũ hành để treo theo phương vị ngũ hành để phát huy hiệu quả cao nhất…

Treo tranh đúng cách


Một căn nhà đẹp nếu thiếu tranh la chẳng khác gì một thiếu nữ phục sức đẹp mà thiếu đi đôi giầy vậy. Nhưng để treo được tranh đẹp bạn cần phải nắm được những nguyên tắc cơ bản về treo tranh.


Đã bao giờ bạn chiêm ngưỡng một ngôi nhà với nột thất rất đẹp nhưng bạn vẫn cảm thấy thiếu một thứ gì đó. Thông thường đó chính là những bức tranh. Rất nhiều người không nghĩ đến việc treo tranh trong nhà hoặc họ chỉ treo một bức tranh khiêm tốn ở chỗ đặt ghế sofa. Không phải cứ treo một bức tranh trong nhà là được mà còn phải treo đủ.

Đừng dè dặt khi mua và treo tranh trong phòng của bạn. Bạn có thể treo những bức tranh có khung hay những bức tranh đá không có khung. Nhưng bên cạnh đó bạn cũng phải biết chọn vị trí treo tranh sao cho phù hợp với ngôi nhà của bạn. Lỗi sai cơ bản là treo tranh quá cao ở trên tường. Một nguyên tắc cơ bản của việc treo tranh là bức tranh sẽ đối diện với tầm nhìn của chúng ta. Bạn có thể treo bức tranh ở gần bộ bàn ghế sofa sao cho khi khách ngồi xuống sẽ có thể quan sát được bức tranh của bạn.

Bạn có thể treo tranh khổ to hay nhỏ đều được miễn là bạn bố trí tranh sao cho phù hợp, đôi khi treo tranh một cách ngẫu hứng trong phòng sẽ khiến mọi thứ trở nên cá tính hơn. Nếu quá nhàm chán với những bức tranh ở mãi một vị trí, bạn có thể thay đổi vị trí treo tranh bất cứ khi nào bạn có thời gian rảnh và muốn làm mới ngôi nhà của mình.

Một nguyên tắc nữa là nên treo tranh trên tường chứ không nên để tranh lên những đồ nột thất trong phòng như để trên tủ, bàn...

Khi treo tranh phải chú ý để cạnh đáy của tranh song song với những vật dưới nó, và không nên treo tranh cách xa hơn 36cm so với bàn hay ghế ở phía dưới.

Đừng coi việc mua một bức tranh đắt tiền là xa xỉ, một bức tranh đẹp đôi khi lại khiến những vị khách chú ý nhiều hơn là những đồ nội thất trong phòng.

NGHỆ THUẬT TREO TRANH

Tranh la làm nên sự sinh động của ngôi nhà. Thông thường, tranh được treo theo quy tắc hài hòa, cân đối với mảng tường, giữa các tranh với nhau. Đôi khi, bạn có thể sáng tạo trên cơ sở tính đối xứng hoặc bất đối xứng để tạo ra những điểm nhìn sinh động. 5 ví dụ cụ thể dưới đây là những gợi ý nho nhỏ cho bạn.

Số lẻ. Bỏ qua nguyên tắc đối xứng trong một số trường hợp, bạn treo tranh với số lẻ có thể tạo một sự thú vị về mặt thị giác.

Bạn có thể sắp xếp những bức tranh lẻ trên một mảng tường nhất định và tạo sự cân đối trên một vật gì đó (chẳng hạn những bức tranh nằm cân đối trên chiều ngang kệ tủ hay vừa đủ chiều dài của lò sưởi giả. Có thể áp dụng trường hợp này với những chiếc đĩa, khay treo...


Theo chiều thẳng đứng. Trong những mảng tường nhỏ hẹp, bạn vẫn có thể trang hoàng bằng vài bức tranh nhỏ. Chẳng hạn, vài bức gốm gắn trên tường theo chiều dọc để tạo một không gian xinh xắn
Treo xô. Những bức tranh theo tông màu nhã được làm cho cho sinh động hơn nhờ cách bài trí sáng tạo. Chẳng hạn, 4 bức tranh màu nước này thoạt nhìn có vẻ như được treo một cách xô lệch song chúng lại mang một trật tự nhất định khi lấy bức phù điêu nhỏ làm tâm và cân đối với mặt bàn.


Chuyển động theo bậc cầu thang. Cầu thang cũng là một địa điểm thích hợp để treo tranh, tuy nhiên để tạo hiệu quả thị giác, cầu thang phải đủ rộng, và khoảng cách của các bức tranh cân đối, theo chiều đi lên của các bậc thanh, đồng thời khổ của tranh không nên quá lớn.



Góc nhỏ nghệ thuật. Những ảnh đóng khung được bày ngẫu nhiên trên giá cùng vài đồ trang trí nhỏ đơn giản lại có thể làm cho căn phòng “art” hẳn lên, cho dù đó chỉ là những tấm thiệp, những bức ảnh đen trắng…





Mai Trí

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)